NW Vietnamese News

Trong lần tái bản KỊCH THƠ “VIỄN KHÁCH” với bài viết cuối đời của đồng tác giả Hoa Thu…

June 18
16:27 2018
Bài viết cuối đời của đồng tác giả Hoa Thu trong ấn bản kịch thơ Viễn Khách…
Lời Giới Thiệu: Nhân dịp Tuyển tập thơ Viễn Khách của đồng tác giả Hoa Thu- Lê Huyền Linh (hai người bạn đồng chí hướng) phát hành lần thứ nhì, trong đó bao gồm 40 bài thơ Lê Huyền Linh gom góp tìm kiếm công phu… Người Việt Tây Bắc xin trích đăng đoản văn của tác giả Hoa Thu- Đặng Đức Hoan, nguyên là một độc giả và là văn hữu của Người Việt Tây Bắc từ số đầu tiên cùng với các nhà thơ Ngân Sơn-Đặng Bá Cảnh, nhà văn Nguyễn Công Khanh… , khi ấy tác giả Hoa Thu cũng đã ở tuổi lục tuần. Tòa soạn đăng bài viết và bài giới thiệu như lời chúc mừng nhân dịp Tuyển tập được tái bản và cũng mừng thượng thọ tác giả năm nay còn khoẻ mạnh ở tuổi 94. 
Người Việt Tây Bắc.

 

 

BÀI VIẾT CUỐI ĐỜI CỦA HOA THU VỀ KỊCH THƠ “VIỄN KHÁCH”
 
  
Tôi, Hoa Thu Đặng thị Đức Hoan, năm nay bước sang tuổi 94 âm lịch. Ngày ra đi vĩnh viễn đã gần kề. Tế bào óc có lẽ tàn lụi dần nên nhớ quên không chừng. Nhưng chuyện minh xác bút danh tác giả Viễn Khách vẫn canh cánh bên lòng.
 Tôi có một hối tiếc là năm 1948 đã mang bản thảo Viễn Khách vào Hà Nội, đưa gửi một thân quyến là nhà văn Vũ Bằng, để rồi sau đó lại trở ra hậu phương. Trong thời gian tôi vắng mặt, ở Hà Nội ông Vũ Bằng đã tự ý đăng vở kịch vào Tiểu Thuyết Thứ Bẩy năm 1949. Khi tôi biết thì sự đã rồi. Tuy nhiên sau này nghĩ lại tôi cũng cám ơn ông đã cho đăng lên báo, do đó vở kịch đã tồn tại, có cơ hội được ra mắt người đọc và sau này, năm 1951 được trình diễn tại các nhà Hát Lớn Hà Nội và Hải Phòng.
Vở kịch thơ Viễn Khách do Lê Huyền Linh (Lê Đình Thưởng) (*) viết năm 1943, nhưng coi như hoàn tất năm 1947.
Tôi nói “coi như” vì vào thời điểm đó, tôi mới gặp tác giả Lê Huyền Linh (ảnh phải) và vở kịch viết trên cuốn vở học trò, đang còn bôi xóa lem nhem. Tôi đã cùng anh bàn soạn, sửa chữa để hoàn tất cho xong tác phẩm này. Anh đề nghị lấy tên tác giả là Hoa Thu là tên chung của hai người Hoan và Thưởng do một phần của hai tên chúng tôi ghép lại. Ý tôi lại muốn cho truyện có hậu, nên chúng tôi định thêm ba hồi nữa, nhưng chưa thực hiện xong thì tôi đã đem vở kịch đi gửi, vì sợ thất lạc như hầu hết các bản thảo văn thơ khác của anh.
Như đã nói ở trên, vở kịch Viễn Khách nói về cuộc khởi nghĩa của nhóm con cháu họ Trần mưu diệt nhà “Hồ” Quí Ly. Sau khi anh Thưởng cùng tôi hội ý, sửa chữa đến năm 1947 tạm xong. Nhưng vì đang thời cách mạng của Hồ Chí Minh đang lên, rất nguy hiểm nếu bị hiểu lầm, nên tôi phải đề là viết xong từ mấy năm trước (1943) để tránh sự nghi ngờ của chính quyền “Hồ” Chí Minh đương thời.
Trong thư gửi Băng Sơn để cám ơn bài tùy bút của Băng Sơn về Viễn Khách, tôi đã viết:
“Tác giả Viễn Khách là người rất cẩn trọng. Vốn giòng Khổng học, anh tinh thông cổ văn, bút pháp sắc bén, văn vần văn xuôi đều linh động. Chính Hoàng Cầm phải công nhận là “thơ Viễn Khách trang trọng điêu luyện, chau chuốt”, vì tác giả nhấc bút đặt câu là cân nhắc đắn đo, chọn chữ lựa lời.”
Suốt ba hồi vở kịch, không có từ nào gượng gạo hay dung tục. Anh thường tuyên bố: “Tôi viết khó khăn, bao giờ cũng phải nghiền ngẫm trong đầu rồi mới viết, thời gian nghiền ngẫm lâu gấp ba, bốn lần thời gian viết. Ấy là chưa kể thời gian sửa chữa.” Anh sáng tác Viễn Khách từ 1943 mà năm 1947 gặp tôi, bản thảo còn đầy vết sửa, gạch xóa… lúc rảnh rỗi anh cùng tôi bàn tới bàn lui… Hồi đó chiến cuộc leo thang, cơ quan anh lãnh đạo phải sửa soạn di chuyển… Tôi mang bản thảo Viễn Khách về Hà Nội, trong khi anh vẫn chưa vừa ý tác phẩm mà cho là “chưa hoàn tất”.
Đã nhiều lần, tôi phê bình sự bền gan tỉ mỉ cũng như tính “cầu toàn trách bị” của anh. Nhưng xét ra đó là “tật” chung của các văn nghệ sĩ tự trọng.
Buffon đã chẳng viết: Le génie n’est qu’une longue patience (tài năng chỉ là sự kiên nhẫn) đó sao? Đã có tài lại thêm sự bồi đắp ôn luyện nữa, khác nào như gấm thêm hoa. Tolstoï chỉ hoàn thành “Chiến Tranh và Hòa Bình” sau 7 lần sửa chữa cuốn tiểu thuyết trường thiên đó. Và Dostoïevski nghiền ngẫm truyện “Anh Em Nhà Kamarazov” trong 9 năm mới bắt đầu viết.
Lê Huyền Linh sáng tác kịch bản Viễn Khách, đã rất cẩn thận ngay từ cốt truyện. Khi tôi phàn nàn Viễn Khách không “có hậu”, anh đã chiều ý tôi, định sửa đổi và thêm vào vở kịch ba hồi nữa. Cái épilogue có thể là chàng Vương tử họ Trần cùng người đẹp Hồ Thiên Hương bỏ mọi sự tranh giành ngôi báu, đưa nhau về nơi núi rừng hẻo lánh, làm bạn với những cùng dân bản địa, sống cuộc đời ẩn dật cho đến trọn đời.
Những chiến sĩ phò Trần biết được tông tích chàng đã tìm đến, mời ra cầm quân cùng với Trùng Quang (trong Trùng Quang tân sử) để khởi nghĩa diệt nhà Hồ, thì chàng từ chối. Bị thúc bách quá, chàng phải tạm khất để thu xếp việc nhà rồi sẽ lên đường; nhưng khi người của Trần Quý Khoách đến đón thì chàng và Hồ Thiên Hương đã bỏ đi nơi khác, chỉ còn khoảnh vườn trống v.v… (có thể họ đưa nhau đi rong chơi Ngũ hồ như Phạm Lãi – Tây Thi). Kết cuộc thật đẹp và thơ mộng.
Nhưng trong thực tại, Lê Huyền Linh còn cần “nghiên cứu kỹ đoạn sử mới dựng các nhân vật được…” Anh muốn tìm sự kiện thực của lịch sử, giai đoạn đầu những biến cố các triều đại nhà Trần từ sau 1407 đến những năm 1420… với những cuộc nổi dậy của Trần Ngỗi, Trần Quý Khoách, Phạm Ngọc, Lê Ngữ v.v… Dự định vậy nhưng quyển sử cần thiết ấy thì vẫn chưa tìm ra.
Và than ôi …anh lại mắc vào một mối oan khiên, bị truất bỏ những công trạng trong quá khứ và rồi … ra đi mãi mãi.
Để ý đọc Viễn Khách, người ta sẽ thấy văn chương tác giả phảng phất mùi triết học vì Lê Huyền Linh đọc nhiều, nghiên cứu đủ lãnh vực, kể cả môn tử vi…
Sau này anh đã dịch khá nhiều sách. Sống dưới một chế độ mà người thích viết không được viết tự do, đành phải dịch vậy, vì… “không chịu một ly, một tí nào về trách nhiệm đối với thế sự”! Vậy mà cũng phải dùng bút danh Mạc Mạc, lấy ý từ câu trong sách Lễ Ký để đề phòng:
Mạc hiện hồ ẩn
Mạc hiển hồ vi
Cố quân tử thận kỳ độc giã. 
 
Chớ bảo nơi khuất không ai thấy
Chớ bảo chỗ nhỏ không ai biết
Nên người quân tử phải thận trọng dù ở một mình 
Bản tính cẩn thận, tuy dịch mà cũng không cẩu thả, cố theo tiêu chuẩn “Tín, Đạt, Nhã” của Lỗ Tấn; dịch còn vậy huống hồ làm thơ, sáng tác!
Tôi tiếc cho tài anh, đã do hoàn cảnh, hoặc vì thất lạc bản thảo, hoặc vì vấn đề an nguy nên đã không để lại nhiều tác phẩm cho hậu thế. Nhưng có nhà văn hóa, Saint Thomas d’Aquin, đã nói: “Tôi sợ người của một cuốn sách”.
Arvers xưa chỉ cần một bài thơ Tình tuyệt vọng (Sonnet d’Arvers trong Mes heures perdues), Montaigne chỉ có một tập Les Essais, Margaret Mitchell chỉ có một cuốn Gone With The Wind đời sau vẫn nhắc đến như những tác phẩm lớn. 
Với Hoa Thu, Viễn Khách như được “sống” lại một thời gian, nhưng Lê Huyền Linh thì tan tành sự nghiệp chính trị. Nhiều lần ông đã kề súng vào màng tang định tự tử vì vụ thi hành kỷ luật. Nay lại thêm cốt truyện Viễn Khách của ông là nhà Trần đang khởi nghĩa mưu lật đổ nhà Hồ. Nếu truyện này lộ ra thì ông không tránh khỏi bị trọng tội tử hình.
Khi Viễn Khách xuất hiện trên Tiểu thuyết Thứ Bẩy, và sau đó được công diễn tại Hà Nội, Hải Phòng, tôi, Hoa Thu, vì lý do thời cuộc, đã không chính thức ra mặt. Do đó, khi vở kịch của một kịch tác gia khác ra đời năm 1953 với nhiều sự kiện trùng hợp với Viễn Khách, từ cách phân đoạn đến cốt truyện cùng thi tứ, đã khiến các báo Hồ Gươm, Sáng Tạo, Giang Sơn ở Hà Nội xôn xao một thời gian. Tuy vậy tôi vẫn im hơi lặng tiếng, vì lo cho tính mạng của Lê Huyền Linh.
Tuy nhiên có điều đáng buồn, vì tác giả Hoa Thu vẫn không xuất hiện hay lên tiếng, nên người ta đã đặt nhiều nghi vấn về xuất xứ vở kịch, khi thì của Hoàng Cầm, khi lại của Hoàng Công Khanh (Hai vị sau này đã có thư cải chính).
Ngay mới năm 2010 gần đây, một nhà phê bình văn học cũng viết là Hoàng Cầm sợ “chế độ” nghi ngờ nội dung vở kịch nên không dám nhận mình là tác giả Viễn Khách.
Thực ra, trước ngày tác giả Viễn Khách qua đời, tôi chưa hề liên lạc với ông Hoàng Cầm, dù là người cùng quê Kinh Bắc. Nhưng sau nghe dư luận gán ghép Viễn Khách cho Hoàng Cầm, tôi mới viết thư cho ông. Và ông đã mau mắn viết một thư dài xác định ông không phải là tác giả Viễn Khách (xem bài thơ thi sĩ Hoàng Cầm tặng Hoa Thu). 
Trong thời gian qua, tôi đã nhờ ông Phan Tại giúp xuất bản  Viễn Khách, ấn bản thứ nhất vào năm 1997. Và tôi cũng gửi thư đến nhiều báo nhờ cải chính. Tuy nhiên tôi đã không hành  động sốt sắng được như lời thúc giục của nhiều thân hữu, trong số đó có cụ bạn già đồng nghiệp Bảo Vân Bùi Văn Bảo và mấy bạn trẻ hữu danh như Đặng Tiến, Nguyễn Huệ Chi. Chắc các vị này  cũng nản lòng vì sự do dự của tôi.
Sang tới năm nay Mậu Tuất tôi tự nghĩ liệu có xong ước nguyện “giải mã bút danh Hoa Thu” và ấn hành được cuốn Viễn Khách với nhiều tài liệu minh chứng? 
Rất mong thay. 
                                
Hoa Thu Đặng Thị Đức Hoan (Seattle)
______________________________________________
Chú thích (*): Trong bài tác giả dùng tên Lê Huyền Linh để chỉ tác giả Lê Đình Thưởng. 
chú thích hình * Hình Hoa Thu Đặng thị Đức Hoan trong bài:
– 1947 Thời kỳ kháng chiến chống Pháp

Bài Thơ Trên Gác Xếp

Tặng Hoa Thu
 
Thưa bà Hoa Thu
Tôi rất thanh bạch, không có được một chút quà gì gửi biếu bà nhân dịp bà về thăm quê hương. Tôi chỉ dám viết đôi lời thơ tặng bà, dẫu còn thô thiển, nhưng tôi xin được xem như một chút hương quê gió thoảng gửi đến một tâm hồn còn nặng thương đau, mong được bà lượng tình chấp nhận mấy dòng ấm áp bạn bầu. (Hoàng Cầm)
Viễn vọng Hoa Thu thấm sắc buồn
Mắt người ly hận chớp yêu thương
Bóng oan xuyên suốt trang tình sử
Tê tái hồn quê nắng viễn phương
Có cánh hoa nào không biết đau
Vòng quay thế sự gió mưa nhầu
Mỗi khi vang vọng lời ân ái
Hoa lại đằm hương ngát nhụy đầu…
Chưa gặp Hoa Thu, tôi cứ tin
Hồn người xưa ấy sẽ rung lên
Thành thơ đẫm mắt nàng oan khổ
Mài lệ ngày mai chép nghiệp duyên
Đêm 25-5-1992
Hoàng Cầm
Share

About Author

Staff

Staff

Related Articles